SKKN Đề tài: Biện pháp chỉ đạo giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non - Tác giả : Tăng Thị Kim Sơn

 

ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỢNG DỰC
TRƯỜNG MẦM NON HỒNG MINH

-----š›&š›-----\

Đề tài: Biện pháp chỉ đạo giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo 
tại trường mầm non.

 

Lĩnh vực:             Quản

Cấp học:              Mầm non

Tên tác giả:          Tăng Thị Kim Sơn

Đơn vị công tác: Trường mầm non Hồng Minh

Chức vụ:             Phó Hiệu trưởng

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ.

1.   do chọn đề tài.

Trong quá trình phát triển đất nước, giáo dục và đào tạo luôn được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những lĩnh vực then chốt, giữ vai trò nền tảng cùng với khoa học và công nghệ. Nhiều chủ trương, chính sách quan trọng đã được ban hành nhằm thúc đẩy sự đổi mới và phát triển của giáo dục, qua đó đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Việt Nam cũng đã được ghi nhận là một trong những quốc gia sớm hoàn thành mục tiêu phát triển bền vững về giáo dục chất lượng theo định hướng của Liên hợp quốc đến năm 2030.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, lĩnh vực giáo dục và đào tạo vẫn còn tồn tại không ít hạn chế. Giáo dục chưa thực sự trở thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đột phá của đất nước; cơ hội tiếp cận giáo dục giữa các khu vực, vùng miền và đối tượng còn có sự chênh lệch rõ rệt. Đội ngũ giáo viên ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ. Bên cạnh đó, nội dung chương trình giáo dục vẫn còn những bất cập, trong đó việc giáo dục toàn diện về đạo đức, thể chất và thẩm mỹ cho người học chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Vì vậy Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Đây được xem là một văn kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện quyết tâm đổi mới mạnh mẽ và toàn diện lĩnh vực giáo dục, được ví như một bước chuyển mang tính cách mạng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm được nhấn mạnh là đổi mới cơ chế, chính sách theo hướng linh hoạt, vượt trội, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo.

Trên cơ sở đó, chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu và là định hướng trọng tâm của toàn ngành giáo dục. Nhiều văn bản chỉ đạo đã được ban hành nhằm thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin và các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào công tác quản lý và tổ chức dạy học ở các cấp học.

Đối với bậc học mầm non, Chương trình Giáo dục mầm non đã khẳng định rõ quan điểm đổi mới theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, chú trọng tổ chức các hoạt động trải nghiệm, khám phá, qua đó phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của trẻ. Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc ứng dụng công nghệ thông tin và các công cụ hiện đại trong thiết kế cũng như tổ chức hoạt động giáo dục được xem là một giải pháp quan trọng, góp phần tạo nên môi trường học tập sinh động, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo.


Bên cạnh đó, việc triển khai Chương trình chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ, cùng với Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030" đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các cơ sở giáo dục trong việc đổi mới phương thức quản lý và tổ chức dạy học. Trong bối cảnh đó, việc khai thác hiệu quả các nền tảng số, phần mềm giáo dục và đặc biệt là các công cụ trí tuệ nhân tạo đang trở thành xu hướng không thể thiếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

Tuy nhiên, qua thực tế công tác tại đơn vị, tôi nhận thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo còn nhiều hạn chế. Phần lớn giáo viên mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng các phần mềm cơ bản; việc khai thác các công cụ AI trong thiết kế học liệu và xây dựng nội dung hoạt động còn chưa hiệu quả. Năng lực ứng dụng công nghệ của giáo viên chưa đồng đều, việc triển khai còn mang tính tự phát, thiếu sự định hướng và chỉ đạo thống nhất. Những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tổ chức hoạt động giáo dục cũng như hiệu quả thực hiện chương trình.

Với cương vị là Hiệu phó phụ trách chuyên môn tổ mẫu giáo, trực tiếp quản lý và chỉ đạo các hoạt động giáo dục trong nhà trường, tôi nhận thấy việc nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ cho đội ngũ giáo viên là yêu cầu cần thiết. Đồng thời, cần đổi mới công tác quản lý chuyên môn theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế chuyển đổi số của ngành giáo dục.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Biện pháp chỉ đạo giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non” với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý chuyên môn, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

2.   Mục đích nghiên cứu.

Nâng cao năng lực chuyên môn, đặc biệt là năng lực ứng dụng CNTT và AI cho đội ngũ giáo viên, giúp giáo viên chủ động thiết kế và tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng hiện đại, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ.

Đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, tăng cường tính trực quan, sinh động, tạo hứng thú cho trẻ thông qua việc khai thác hiệu quả các công cụ công nghệ và AI trong dạy học.

Góp phần nâng cao chất lượng công tác quản chuyên môn của Hiệu phó phụ trách chuyên môn, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay.

3.   Thời gian nghiên cứu.

Trong một năm học từ tháng 9 năm 2025 đến tháng 3 năm 2026.

4.   Đối tượng nghiên cứu.

Các biện pháp chỉ đạo của Hiệu phó phụ trách chuyên môn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và AI vào tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non.

Hoạt động chuyên môn của đội ngũ giáo viên mẫu giáo, cụ thể là quá trình thiết kế, tổ chức các hoạt động giáo dục có ứng dụng CNTT và AI.

Mức độ tham gia, hứng thú và hiệu quả tiếp nhận của trẻ mẫu giáo thông qua các hoạt động giáo dục có ứng dụng công nghệ.

5.   Phạm vi nghiên cứu.

Về nội dung: Tập trung nghiên cứu và đề xuất các biện pháp chỉ đạo ứng dụng CNTT và AI trong tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo, bao gồm: xây dựng kế hoạch, bồi dưỡng giáo viên, tổ chức thực hiện, sinh hoạt chuyên môn và kiểm tra – đánh giá.

Về đối tượng khảo sát, thực nghiệm: Giáo viên các lớp MG trong nhà trường

Về không gian: Được triển khai tại trường mầm non Hồng Minh -

Phượng Dực - Nội.

6.   Số liệu khảo sát trước khi thực hiện đề tài.

*   Đặc điểm tình hình chung:

Trường Mầm non Hồng Minh nằm trên địa bàn xã Phượng Dực, thành phố Hà Nội. Trường có 29 nhóm lớp với tổng số 660 cháu (trong đó: Nhà trẻ: 239 cháu; mẫu giáo: 421 cháu). Tổng số GV là 80 đồng chí (trong đó: Giáo viên nhà trẻ: 32 đ/c; Giáo viên mẫu giáo: 48 đ/c) Giáo viên có trình độ trên chuẩn là 48/48 đ/c đạt 100%. Đội ngũ giáo viên đoàn kết, tâm huyết với nghề. Trường có khung cảnh sư phạm xanh – an toàn – hạnh phúc, có vườn cổ tích, vườn hoa, vườn rau của bé, khu phòng học chức năng   Nhà trường đã được các cấp lãnh

đạo quan tâm xây dựng và sửa sang lại các phòng học, có đủ cơ sở vật chất cần thiết để phục vụ cho công tác chăm sóc và giáo dục trẻ, đã được công nhận trường chuẩn Quốc gia mức độ I vào năm 2020.

*   Thuận lợi:

Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của UBND xã, Phòng Văn hóa-xã hội xã Phượng Dực trong việc triển khai nhiệm vụ năm học, đặc biệt là định hướng ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục mầm non.

sở vật chất của nhà trường từng bước được đầu tư, các lớp học bản được trang bị thiết bị như máy tính, tivi, kết nối internet, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên ứng dụng CNTT vào tổ chức hoạt động giáo dục.


Đội ngũ giáo viên có tinh thần trách nhiệm, yêu nghề, tích cực tham gia các hoạt động chuyên môn; một bộ phận giáo viên trẻ có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ mới, sẵn sàng hỗ trợ đồng nghiệp trong quá trình ứng dụng CNTT và AI.

Ban giám hiệu nhà trường nhận thức rõ về vai trò, sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT và AI trong nâng cao chất lượng giáo dục, từ đó có định hướng chỉ đạo phù hợp nhằm từng bước đổi mới hoạt động chuyên môn.

*   Khó khăn:

Năm học 2025 - 2026, nhà trường thực hiện sáp nhập, quy mô trường lớp mở rộng với 3 khu hoạt động riêng biệt, dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác quản lý, chỉ đạo chuyên môn. Việc di chuyển giữa các khu còn hạn chế, ảnh hưởng đến công tác kiểm tra, dự giờ và hỗ trợ giáo viên kịp thời.

Sau khi sáp nhập, đội ngũ giáo viên có sự thay đổi, chưa đồng đều về năng lực chuyên môn và kỹ năng ứng dụng công nghệ. Ban giám hiệu, đặc biệt là Hiệu phó phụ trách chuyên môn, chưa có đủ thời gian để nắm bắt đầy đủ, sâu sát năng lực, sở trường của từng giáo viên, từ đó việc phân công, hỗ trợ và bồi dưỡng còn gặp khó khăn.

Một số giáo viên lớn tuổi còn hạn chế trong việc sử dụng CNTT và chưa tiếp cận được với các công cụ AI; tâm lý e ngại đổi mới, thiếu tự tin khi áp dụng công nghệ vào hoạt động giảng dạy vẫn còn tồn tại.

Việc ứng dụng CNTT và AI trong tổ chức hoạt động giáo dục chưa đồng bộ giữa các lớp, còn mang tính tự phát; chưa hình thành được thói quen chia sẻ học liệu và hỗ trợ lẫn nhau trong toàn tổ chuyên môn.

Công tác sinh hoạt chuyên môn chưa đi sâu vào việc hướng dẫn thực hành ứng dụng công nghệ, thiếu các nội dung cụ thể, thiết thực gắn với yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay.

Để có cơ sở xây dựng các biện pháp phù hợp, tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng mức độ ứng dụng CNTT và AI của đội ngũ giáo viên mẫu giáo trong nhà trường.

Tổng số giáo viên được khảo sát: 48 giáo viên

Thời điểm: Tháng 9 năm 2025 kết quả thu được như sau:

 

TT

Nội dung khảo sát

Mức độ

Số lượng

Tỷ lệ (%)

1

Giáo viên sử dụng CNTT trong         soạn         giảng

Thành thạo

18

37%

bản

20

42%


 

 

(PowerPoint, video…)

Hạn chế

10

21%

 

2

Giáo viên sử dụng các công cụ AI (ChatGPT, Gama, Cloud, Canva AI…)

Thường xuyên

14

29%

Thỉnh thoảng

19

40%

Không    thường

xuyên

15

31%

 

3

 

Tinh thần tự học, tự bồi dưỡng về CNTT và AI

Thường xuyên

11

23%

Thỉnh thoảng

19

40%

Không    thường

xuyên

18

37%

Nhìn vào bảng kết quả khảo sát cho thấy giáo viên sử dụng CNTT chỉ ở mức độ cơ bản, tỷ lệ giáo viên sử dụng thành thạo công nghệ còn thấp. Việc sử dụng các công cụ AI như: ChatGPT, Gama, Cloud, Canva AI.... chưa thường xuyên, đặc biệt tinh thần tự học, tự bồi dưỡng về CNTT và AI còn rất thấp. Kết quả khảo sát trên là cơ sở quan trọng để đề tài nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo tại trường Mầm non.

PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.   sở luận.

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục gắn với chuyển đổi số, việc ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong giáo dục mầm non là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ theo hướng hiện đại hiệu quả.

Giáo dục mầm non giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành phát triển toàn diện nhân cách trẻ, do đó việc đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục theo quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm” cần được hỗ trợ bởi các công cụ công nghệ nhằm tăng tính trực quan, sinh động và phát huy tính tích cực, chủ động của trẻ. CNTT và AI không chỉ giúp giáo viên thiết kế học liệu phong phú, sáng tạo, tiết kiệm thời gian mà còn góp phần đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo. Đồng thời, công tác quản lý chuyên môn trong nhà trường mầm non, đặc biệt là vai trò của Hiệu phó phụ trách chuyên môn, cần được đổi mới theo hướng tăng cường chỉ đạo, hỗ trợ và tạo điều kiện để giáo viên nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ trong giảng dạy.

Như vậy, việc nghiên cứu và triển khai các biện pháp chỉ đạo ứng dụng CNTT và AI trong tổ chức hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo là hoàn toàn phù hợp với cơ sở lý luận và yêu cầu thực tiễn của giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

2.   Các biện pháp mới được áp dụng.

2.1.   Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và AI cho đội ngũ giáo viên mẫu giáo.

Xuất phát từ thực trạng đội ngũ giáo viên còn hạn chế về năng lực ứng dụng công nghệ, đặc biệt là một bộ phận giáo viên lớn tuổi còn e ngại khi tiếp cận CNTT và AI, với vai trò là Hiệu phó phụ trách chuyên môn, tôi đã chủ động xây dựng và triển khai biện pháp nâng cao nhận thức gắn với bồi dưỡng kỹ năng theo hướng thiết thực, phù hợp với từng đối tượng. Trước hết, tôi tiến hành khảo sát, đánh giá thực tế thông qua phiếu khảo sát, dự giờ và trao đổi trực tiếp để phân loại giáo viên theo 3 nhóm năng lực, từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phù hợp, tránh dàn trải. Trên cơ sở đó, tôi tổ chức các buổi chuyên đề nhằm tuyên truyền, giúp giáo viên hiểu đúng vai trò của CNTT và AI trong giáo dục mầm non, nhấn mạnh đây là công cụ hỗ trợ đắc lực chứ không thay thế vai trò của giáo viên. Trong quá trình triển khai, tôi đặc biệt chú trọng hình thức bồi dưỡng “cầm tay chỉ việc”, lựa chọn các công cụ đơn giản, dễ sử dụng như ChatGPT, Canva, CapCut, Camtasia để hướng dẫn giáo viên thực hành trực tiếp từng bước, kết hợp phân công giáo viên có năng lực kèm cặp, hỗ trợ đồng nghiệp còn hạn chế.

Trong quá trình bồi dưỡng, tôi không dừng lại ở việc giới thiệu lý thuyết mà tập trung hướng dẫn giáo viên ứng dụng trực tiếp các công cụ AI vào từng hoạt động cụ thể, phù hợp với đặc thù giáo dục mầm non. Cụ thể, tôi lựa chọn các công cụ dễ sử dụng, có tính trực quan cao để giáo viên nhanh chóng tiếp cận và áp dụng.

Để giúp giáo viên dễ dàng tiếp cận và ứng dụng công nghệ vào thực tiễn giảng dạy, tôi đã trực tiếp hướng dẫn một số nội dung mang tính thao tác cụ thể, trong đó có việc tạo video hoạt hình và trò chơi tương tác trên nền tảng Canva.

Cụ thể, trong một buổi bồi dưỡng chuyên môn, tôi tổ chức hướng dẫn giáo viên thiết kế video hoạt hình phục vụ hoạt động kể chuyện theo các bước đơn giản: giáo viên đăng nhập vào Canva, lựa chọn mục “Video” hoặc “Presentation”, sau đó tìm kiếm các mẫu có sẵn với chủ đề phù hợp như “câu chuyện thiếu nhi”, “hoạt hình động vật”. Tiếp theo, giáo viên nhập nội dung câu chuyện đã chuẩn bị (có thể được hỗ trợ bởi AI), chèn hình ảnh minh họa và sử dụng các hiệu ứng chuyển động để tạo sự sinh động. Đặc biệt, tôi hướng dẫn giáo viên sử dụng tính năng “Animate” để tạo chuyển động cho nhân vật, kết hợp chèn âm thanh hoặc giọng đọc đã tạo từ công cụ AI nhằm hoàn thiện video. Sau khi hoàn thành, giáo viên xuất file video để sử dụng trực tiếp trong hoạt động kể chuyện cho trẻ.

Bên cạnh đó, tôi cũng hướng dẫn giáo viên thiết kế trò chơi tương tác đơn giản trên Canva nhằm tăng hứng thú cho trẻ trong các hoạt động học.

Ví dụ: Với trò chơi “Ai nhanh hơn” trong hoạt động làm quen chữ cái, giáo viên tạo các slide gồm câu hỏi và các phương án lựa chọn, sau đó sử dụng tính năng liên kết (link) giữa các trang để khi trẻ chọn đáp án đúng sẽ chuyển sang trang có hình ảnh khen thưởng, nếu sai sẽ chuyển sang trang gợi ý. Việc thiết kế này không yêu cầu kỹ thuật phức tạp nhưng mang lại hiệu quả cao trong việc tạo sự tham gia tích cực của trẻ.

Hình ảnh 1: Hướng dẫn giáo viên ứng dụng công cụ Canva để tạo

trò chơi tương tác

Ví dụ: Đối với việc thiết kế video phục vụ hoạt động học, tôi hướng dẫn giáo viên sử dụng các công cụ chuyển đổi hình ảnh, văn bản thành video như LumaLabs AI, Gemini và Flow Labs Google. Giáo viên chỉ cần nhập nội dung câu chuyện hoặc chủ đề bài học, kết hợp hình ảnh minh họa, hệ thống sẽ hỗ trợ tạo thành video ngắn sinh động, phù hợp để tổ chức hoạt động kể chuyện hoặc khám phá cho trẻ.

Hình ảnh 2: Hướng dẫn giáo viên ứng dụng công cụ Flow Labs Google

để tạo video

Ví dụ: Để hỗ trợ giáo viên trong việc xây dựng học liệu âm thanh, tôi hướng dẫn sử dụng các công cụ chuyển văn bản thành giọng nói như Ai voice, Narakeet, Text-to-Speech của OpenAI. Với các công cụ này, giáo viên có thể dễ dàng tạo ra giọng đọc kể chuyện, đọc thơ hoặc hướng dẫn hoạt động với âm điệu rõ ràng, truyền cảm, giúp tiết kiệm thời gian và tăng tính hấp dẫn cho bài dạy.

Hình ảnh 3: Hướng dẫn giáo viên ứng dụng công cụ Ai voice để chuyển

văn bản thành giọng nói

Ví dụ: Trong thiết kế bài giảng, tôi hướng dẫn giáo viên sử dụng công cụ tạo slide thuyết trình tự động như Gamma. Giáo viên chỉ cần nhập nội dung chính của bài học, hệ thống sẽ gợi ý bố cục, hình ảnh minh họa và tạo slide hoàn chỉnh, từ đó giáo viên có thể chỉnh sửa lại cho phù hợp với đặc điểm lớp mình.

Hình ảnh 4: Hướng dẫn giáo viên ứng dụng công cụ Gama để tạo Slide thuyết trình

Thông qua việc hướng dẫn cụ thể, trực quan và có sản phẩm hoàn chỉnh, giáo viên dễ dàng tiếp cận, thực hành và áp dụng ngay vào hoạt động giảng dạy của lớp mình. Đồng thời, hình thức này cũng giúp giáo viên, đặc biệt là giáo viên còn hạn chế về công nghệ, từng bước hình thành kỹ năng ứng dụng CNTT và AI một cách tự tin, hiệu quả.

2.2.   Biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong thiết kế và tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo.


Để việc ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động giáo dục không mang tính hình thức mà thực sự đi vào chiều sâu, tôi xác định nội hàm của biện pháp này không chỉ dừng lại ở việc yêu cầu giáo viên “có sử dụng công nghệ” mà là chỉ đạo giáo viên biết lựa chọn, thiết kế và tích hợp công nghệ phù hợp vào từng khâu của quá trình tổ chức hoạt động giáo dục. Việc triển khai được thực hiện theo quy trình cụ thể, gắn với thực tiễn lớp học và năng lực của giáo viên.

Trước hết, tôi chỉ đạo giáo viên ứng dụng CNTT và AI ngay từ khâu thiết kế hoạt động giáo dục. Khi xây dựng kế hoạch hoạt động, giáo viên không soạn bài theo cách truyền thống mà được hướng dẫn sử dụng các công cụ AI như ChatGPT để gợi ý nội dung, xây dựng hệ thống câu hỏi, tình huống sư phạm phù hợp với chủ đề và độ tuổi. Sau đó, giáo viên sử dụng Canva để thiết kế học liệu trực quan như hình ảnh, slide, trò chơi. Tôi yêu cầu mỗi giáo án phải thể hiện rõ: nội dung nào sử dụng công nghệ, mục đích sử dụng là gì, tránh tình trạng lạm dụng hoặc sử dụng không đúng chỗ.

Tiếp theo, trong quá trình tổ chức hoạt động, tôi định hướng giáo viên tích hợp công nghệ theo từng bước của hoạt động (mở đầu – trọng tâm – củng cố). Cụ thể, ở phần gây hứng thú, giáo viên có thể sử dụng video hoặc hình ảnh động để tạo tình huống; ở phần trọng tâm, sử dụng học liệu số để minh họa, giúp trẻ quan sát, khám phá; ở phần củng cố, thiết kế trò chơi tương tác để trẻ tham gia. Bên cạnh đó, tôi đặc biệt chú trọng chỉ đạo giáo viên ứng dụng AI vào việc tạo học liệu nhanh, tiết kiệm thời gian nhưng vẫn đảm bảo chất lượng. Giáo viên được hướng dẫn sử dụng các công cụ AI để:

Tạo video minh họa từ nội dung bài học.
Tạo giọng đọc kể chuyện, đọc thơ.
Tạo hình ảnh gợi ý cho hoạt động tạo hình.

Ví dụ: Trong hoạt động khám phá “Vòng đời phát triển của Bướm” của lớp mẫu giáo 4 tuổi B1, giáo viên sử dụng ChatGPT để gợi ý nội dung câu hỏi đàm thoại, xây dựng tình huống dẫn dắt hấp dẫn; sau đó sử dụng công cụ Flow Labs Google để tạo video để thiết kế hình ảnh động vật sinh động, rõ nét, phù hợp với nhận thức của trẻ. Nhờ đó, nội dung hoạt động trở nên phong phú, có tính trực quan cao và dễ thu hút trẻ tham gia.

Hình ảnh 5: Hoạt động khám phá của lớp 4TB1

Bên cạnh việc thiết kế, tôi đặc biệt chú trọng chỉ đạo giáo viên ứng dụng công nghệ vào quá trình tổ chức hoạt động giáo dục, đảm bảo công nghệ trở thành công cụ hỗ trợ tích cực chứ không làm thay vai trò của giáo viên. Cụ thể, trong các hoạt động học có chủ đích, giáo viên được hướng dẫn sử dụng video, hình ảnh động, âm thanh để tạo tình huống mở đầu, dẫn dắt nội dung củng cố kiến thức.

Ví dụ: Trong hoạt động tạo hình “làm các con côn trùng” của lớp mẫu giáo 5TA2, giáo viên sử dụng video hoạt hình để tạo tình huống dẫn dắt vào bài do chính mình thiết kế bằng Canva kết hợp với giọng đọc được tạo từ công cụ AI, giúp câu chuyện trở nên sinh động, trẻ dễ tiếp nhận và ghi nhớ nội dung.

Hình ảnh 6: Hoạt động tạo hình của lớp 5TA2

Đối với các hoạt động làm quen chữ cái, làm quen toán, tôi chỉ đạo giáo viên thiết kế trò chơi tương tác có ứng dụng CNTT nhằm tăng cường sự tham gia của trẻ.

Ví dụ: Với hoạt động làm quen với toán, giáo viên thiết kế trò chơi “những con số mật” trên Canva, trong đó trẻ lựa chọn đáp án trên màn hình và nhận phản hồi ngay lập tức thông qua các hiệu ứng hình ảnh, âm thanh. Qua đó, trẻ được học thông qua chơi, tạo hứng thú và phát huy tính tích cực.

Hình ảnh 7: Hoạt động làm quen với toán của lớp 5TB

Ví dụ: Ứng dụng AI trong hoạt động âm nhạc: Trong hoạt động âm nhạc của lớp 3 TC1, giáo viên sử dụng công cụ chuyển văn bản thành giọng nói như Vbee để tạo bản nhạc lời chậm, rõ ràng giúp trẻ dễ học. Đồng thời, giáo viên kết hợp hình ảnh minh họa nội dung bài hát trên Canva để trẻ vừa nghe vừa quan sát, từ đó ghi nhớ lời bài hát, cách vận động minh họa theo lời bài hát nhanh hơn.

Hình ảnh 8: Hoạt động âm nhạc của lớp 3TC1

Ngoài ra, tôi cũng định hướng giáo viên ứng dụng AI vào các hoạt động bổ trợ như hoạt động góc, hoạt động chiều. Ví dụ, giáo viên sử dụng video hướng dẫn kỹ năng sống (rửa tay đúng cách, gấp quần áo…) hoặc các clip ngắn về thiên nhiên, động vật để trẻ quan sát, thảo luận trong giờ hoạt động góc. Những nội dung này có thể được tạo nhanh chóng thông qua các công cụ AI chuyển văn bản thành video, giúp tiết kiệm thời gian nhưng vẫn đảm bảo tính hấp dẫn.

Để đảm bảo việc triển khai đi vào thực chất, tôi thực hiện chỉ đạo gắn với kiểm tra và hỗ trợ thường xuyên. Tôi xây dựng kế hoạch dự giờ có nội dung đánh giá việc ứng dụng CNTT và AI, sau mỗi giờ dạy đều góp ý cụ thể: sử dụng công nghệ đã phù hợp chưa, có phát huy hiệu quả không, cần điều chỉnh ở đâu. Đồng thời, tôi yêu cầu mỗi giáo viên đăng ký nội dung ứng dụng công nghệ theo tuần/tháng để theo dõi, tránh làm qua loa, hình thức.

Một điểm quan trọng trong nội hàm của biện pháp là đảm bảo tính phù hợp và không lạm dụng công nghệ. Tôi luôn định hướng giáo viên sử dụng


CNTT AI như một công cụ hỗ trợ, không thay thế hoàn toàn sự tương tác trực tiếp giữa cô và trẻ. Mọi nội dung ứng dụng phải đảm bảo mục tiêu giáo dục, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo.

Thông qua việc chỉ đạo cụ thể, có quy trình rõ ràng, gắn với kiểm tra và hỗ trợ kịp thời, giáo viên đã từng bước hình thành kỹ năng thiết kế và tổ chức hoạt động giáo dục có ứng dụng CNTT và AI một cách hiệu quả. Các hoạt động trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, trẻ tích cực tham gia, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.

2.3.    Biện pháp 3: Chỉ đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học gắn với ứng dụng công nghệ thông tin và AI.

Nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn, khắc phục tình trạng sinh hoạt còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào thực hành, tôi đã chỉ đạo đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, trong đó lấy việc ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo AI làm trọng tâm để trao đổi, phân tích và rút kinh nghiệm.

Trước hết, tôi xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên môn theo từng tháng, xác định rõ chủ đề nghiên cứu gắn với việc ứng dụng CNTT và AI vào một hoạt động cụ thể. Mỗi buổi sinh hoạt không triển khai dàn trải mà tập trung vào một nội dung trọng tâm như: thiết kế hoạt động kể chuyện có sử dụng video AI, tổ chức trò chơi tương tác trên nền tảng số, hoặc xây dựng học liệu trực quan bằng công cụ công nghệ. Trên sở đó, tôi phân công một giáo viên đại diện xây dựng bài dạy minh họa, có áp dụng CNTT và AI theo định hướng đã thống nhất.

Tiếp theo, tôi chỉ đạo thực hiện quy trình sinh hoạt chuyên môn theo

hướng nghiên cứu bài học gồm 4 bước cụ thể:

(1)   Xây dựng kế hoạch bài dạy: Giáo viên được phân công phối hợp cùng tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch hoạt động, trong đó xác định rõ mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức và cách thức ứng dụng CNTT, AI;

(2)    Tổ chức dạy minh họa: Giáo viên thực hiện hoạt động tại lớp, có sự tham dự của các thành viên trong tổ chuyên môn;

(3)   Dự giờ, quan sát ghi chép: Giáo viên dự giờ tập trung quan sát phản ứng, mức độ tham gia của trẻ, hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ;

(4)   Thảo luận, rút kinh nghiệm: Sau giờ dạy, tổ chức trao đổi, phân tích cụ thể từng nội dung, đặc biệt là việc sử dụng CNTT, AI đã phù hợp hay chưa, có phát huy hiệu quả không, cần điều chỉnh như thế nào.

Trong quá trình chỉ đạo, tôi đặc biệt chú trọng định hướng nội dung thảo luận đi vào thực chất, tránh nhận xét chung chung. Giáo viên được khuyến khích trao đổi thẳng thắn, tập trung vào các vấn đề như: công nghệ được sử dụng có hỗ trợ tốt cho mục tiêu bài học không, phù hợp với đặc điểm của trẻ không, cách tổ chức có phát huy được tính tích cực của trẻ không.

Ví dụ: Trong buổi sinh hoạt chuyên môn với chủ đề “Ứng dụng CNTT và AI trong hoạt động kể chuyện cho trẻ 5–6 tuổi”, tôi phân công một giáo viên xây dựng và thực hiện hoạt động kể chuyện “Chú dê đen”. Giáo viên đã sử dụng Canva để thiết kế video hoạt hình minh họa câu chuyện, kết hợp giọng đọc được tạo từ công cụ AI. Trong giờ dạy, trẻ rất hứng thú theo dõi, tích cực tham gia trả lời câu hỏi. Sau giờ học, trong phần thảo luận, giáo viên trong tổ đã phân tích cụ thể: video sinh động, phù hợp với nội dung nhưng cần giảm tốc độ chuyển cảnh để trẻ dễ quan sát hơn; đồng thời đề xuất bổ sung thêm phần tương tác trực tiếp giữa cô và trẻ để tăng hiệu quả giáo dục.

Bên cạnh hình thức sinh hoạt trực tiếp, tôi còn chỉ đạo kết hợp sinh hoạt chuyên môn trực tuyến, tận dụng các nền tảng số để chia sẻ video bài dạy, học liệu và kinh nghiệm ứng dụng AI. Giáo viên có thể xem lại video, trao đổi ý kiến mọi lúc, từ đó mở rộng phạm vi học tập và nâng cao hiệu quả bồi dưỡng chuyên môn.

Hình ảnh 9: Sinh hoạt chuyên môn tổ mẫu giáo

Ví dụ: Trong buổi sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, tôi đã chỉ đạo tổ chức một tiết dạy minh họa hoạt động “Làm quen chữ cái b, d, đ” cho trẻ 5–6 tuổi. Trước khi tổ chức, tôi yêu cầu giáo viên dạy minh họa xây dựng kế hoạch hoạt động có ứng dụng CNTT và AI, trong đó sử dụng Canva để thiết kế trò chơi tương tác và sử dụng ChatGPT để xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở phù hợp với trẻ.

Hình ảnh 10: Sinh hoạt chuyên môn tổ mẫu giáo

Trong quá trình dự giờ, các giáo viên trong tổ được phân công quan sát theo các tiêu chí cụ thể như: mức độ phù hợp của việc ứng dụng công nghệ, hiệu quả thu hút trẻ, khả năng tương tác giữa cô và trẻ. Sau tiết dạy, tôi tổ chức thảo luận theo hướng mở, khuyến khích giáo viên chia sẻ cảm nhận và góp ý trực tiếp. Một số ý kiến cho rằng trò chơi thiết kế trên Canva rất hấp dẫn nhưng cần giảm bớt hiệu ứng để tránh gây phân tán sự chú ý của trẻ.

Tiếp đó, tôi định hướng giáo viên cùng phân tích sâu: công nghệ đã hỗ trợ gì cho hoạt động, điểm nào thực sự hiệu quả, điểm nào cần điều chỉnh. Đồng thời, tôi yêu cầu giáo viên dạy minh họa chỉnh sửa lại bài giảng dựa trên góp ý và chia sẻ lại sản phẩm hoàn chỉnh trong nhóm chuyên môn để các giáo viên khác tham khảo, học tập.
Thông qua buổi sinh hoạt này, giáo viên không chỉ được dự giờ còn được trực tiếp trải nghiệm, phân tích rút kinh nghiệm về cách ứng dụng CNTT và AI trong hoạt động giáo dục, từ đó nâng cao năng lực chuyên môn một cách thực chất, đồng thời tạo sự lan tỏa trong toàn tổ.

Ngoài ra, tôi xây dựng kho học liệu dùng chung của tổ chuyên môn, trong đó lưu trữ các bài giảng, video, trò chơi, sản phẩm ứng dụng CNTT và AI đã được chỉnh sửa sau sinh hoạt chuyên môn. Đây là nguồn tài liệu thiết thực giúp giáo viên tham khảo, học hỏi và áp dụng vào thực tế giảng dạy của lớp mình.

Thông qua việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học gắn với ứng dụng CNTT và AI, đội ngũ giáo viên không chỉ nâng cao năng lực chuyên môn mà còn hình thành thói quen tự học, tự bồi dưỡng và chia sẻ kinh nghiệm. Hoạt động sinh hoạt chuyên môn trở nên thiết thực, hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ trong nhà trường.

2.4.   Biện pháp 4: Xây dựng cơ chế kiểm tra, đánh giá, khen thưởng và nhân rộng các điển hình trong ứng dụng công nghệ thông tin và AI.

Để việc ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong tổ chức hoạt động giáo dục đi vào nền nếp, mang tính bền vững và lan tỏa trong toàn trường, tôi xác định cần xây dựng một cơ chế quản lý đồng bộ, bao gồm kiểm tra – đánh giá –khen thưởng – nhân rộng điển hình. Đây là yếu tố then chốt giúp duy trì động lực, tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của đội ngũ giáo viên.

Trước hết, tôi xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc ứng dụng CNTT và AI gắn với kế hoạch chuyên môn của nhà trường. Nội dung kiểm tra không tách rời hoạt động dạy học mà được tích hợp trong các đợt dự giờ, kiểm tra hồ sơ, sinh hoạt chuyên môn. Tôi xây dựng các tiêu chí đánh giá cụ thể như: mức độ phù hợp của việc ứng dụng công nghệ trong bài dạy; tính sáng tạo của học liệu; hiệu quả đối với sự hứng thú và tham gia của trẻ; khả năng khai thác các công cụ AI. Các tiêu chí này được phổ biến công khai để giáo viên nắm rõ và chủ động thực hiện.

Trong quá trình thực hiện, tôi tiến hành dự giờ trọng tâm, tập trung quan sát cách giáo viên sử dụng công nghệ trong từng bước của hoạt động. Sau mỗi giờ dạy, tôi tổ chức nhận xét cụ thể, chỉ rõ ưu điểm và những điểm cần điều chỉnh, đồng thời hướng dẫn trực tiếp cách cải tiến. dụ, trong một giờ hoạt động kể chuyện, giáo viên sử dụng video minh họa nhưng thời lượng quá dài, làm giảm sự tương tác của trẻ; tôi đã góp ý điều chỉnh thời gian video ngắn gọn hơn và tăng cường đặt câu hỏi để trẻ tham gia. Việc góp ý mang tính xây dựng, cụ thể giúp giáo viên dễ tiếp thu và điều chỉnh kịp thời.
Song song với kiểm tra, tôi chú trọng đổi mới hình thức đánh giá theo hướng khuyến khích, động viên. Tôi đưa tiêu chí ứng dụng CNTT và AI vào nội dung đánh giá thi đua của giáo viên theo tháng, học kỳ. Những giáo viên có sự tiến bộ rõ rệt, có sản phẩm chất lượng hoặc có sáng tạo trong ứng dụng công nghệ đều được ghi nhận, biểu dương kịp thời trong các buổi họp hội đồng hoặc sinh hoạt chuyên môn.

Bên cạnh đó, tôi xây dựng tiêu chí khen thưởng cụ thể, thiết thực nhằm tạo động lực cho giáo viên. Hình thức khen thưởng không chỉ dừng lại ở biểu dương mà còn gắn với các quyền lợi như ưu tiên tham gia các hội thi, chuyên đề, đề xuất danh hiệu thi đua.

Ví dụ: Giáo viên thiết kế được video bài giảng sáng tạo hoặc xây dựng được trò chơi tương tác hiệu quả sẽ được lựa chọn để báo cáo trong chuyên đề cấp trường, đồng thời được đề xuất khen thưởng cuối năm. Qua đó, giáo viên thấy rõ sự ghi nhận của nhà trường đối với sự nỗ lực đổi mới của mình.

Hình ảnh 11: Kiến tập Chuyên đề cấp trường tại lớp 5TA.

Một nội dung quan trọng khác nhân rộng các điển hình tốt trong ứng dụng CNTT và AI. Tôi chỉ đạo lựa chọn những giáo viên có sản phẩm tiêu biểu, có cách làm hiệu quả để chia sẻ trong các buổi sinh hoạt chuyên môn. Đồng thời, xây dựng “kho học liệu số” dùng chung của nhà trường, nơi lưu trữ các video, bài giảng, trò chơi do giáo viên thiết kế để toàn bộ giáo viên có thể tham khảo và sử dụng.

Ví dụ: Một giáo viên đã thiết kế thành công bộ trò chơi chữ cái trên nền tảng số, tôi tổ chức cho giáo viên đó trình bày cách làm, sau đó hướng dẫn các giáo viên khác thực hành lại, từ đó nhân rộng trong toàn trường.

Hình ảnh 12: Chia sẻ ứng dụng CNTT trong sinh hoạt chuyên môn

Ngoài ra, tôi khuyến khích giáo viên chia sẻ sản phẩm và kinh nghiệm qua các nhóm trực tuyến của nhà trường, tạo môi trường học tập lẫn nhau, thúc đẩy tinh thần tự học, tự bồi dưỡng. Những sản phẩm tốt được lựa chọn đăng tải, giới thiệu rộng rãi nhằm lan tỏa cách làm hiệu quả.

Thông qua việc xây dựng và triển khai cơ chế kiểm tra, đánh giá, khen thưởng và nhân rộng một cách đồng bộ, việc ứng dụng CNTT và AI trong nhà trường không còn mang tính tự phát mà trở thành hoạt động thường xuyên, có định hướng rõ ràng. Đội ngũ giáo viên có động lực phấn đấu, tích cực đổi mới, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ mẫu giáo một cách bền vững.

3.   Kết quả sau khi áp dụng các biện pháp mới đã triển khai của sáng kiến.

Sau khi áp dụng đồng bộ các biện pháp chỉ đạo giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin AI trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo, cùng với sự đoàn kết, tinh thần ham học hỏi của tập thể giáo viên chất lượng đội ngũ và hiệu quả giáo dục của nhà trường đã có những chuyển biến rõ rệt cuối năm tôi đã thu được kết quả sau:

* Đối với giáo viên:

Đội ngũ giáo viên trong nhà trường đã nhận thức rõ về vai trò, tầm quan trọng của CNTT và AI được nâng cao một cách rõ rệt và thực chất, giáo viên chủ động hơn trong việc tìm hiểu, học hỏi và mạnh dạn áp dụng vào thực tế giảng dạy, không còn phụ thuộc hoàn toàn vào đồng nghiệp như trước.

Bên cạnh đó, năng lực ứng dụng CNTT và AI của giáo viên được cải thiện rõ rệt, thể hiện qua khả năng sử dụng các công cụ cụ thể trong công việc hàng ngày. Giáo viên không chỉ dừng lại ở việc trình chiếu hình ảnh đơn giản mà đã biết.

Sử dụng các công cụ AI để hỗ trợ xây dựng nội dung bài dạy, thiết kế câu hỏi, tình huống sư phạm.

Tạo video minh họa, giọng đọc kể chuyện, trò chơi tương tác phục vụ hoạt động học.
Thiết kế slide bài giảng sinh động, hiệu ứng phù hợp với trẻ.

Đặc biệt, đối với nhóm giáo viên lớn tuổi, mặc dù ban đầu còn nhiều khó khăn nhưng thông qua hình thức bồi dưỡng “cầm tay chỉ việc” và sự hỗ trợ của đồng nghiệp, các cô đã rất tích cực tham gia học hỏi, góp phần thu hẹp khoảng cách về năng lực công nghệ trong đội ngũ.

Ngoài ra, tinh thần sáng tạo và chia sẻ trong đội ngũ giáo viên được nâng cao rõ rệt. Giáo viên không chỉ thực hiện theo yêu cầu mà đã chủ động thiết kế học liệu số, tìm tòi các cách làm mới để nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục. Nhiều giáo viên đã xây dựng được các sản phẩm như video bài giảng, trò chơi tương tác, bộ tranh minh họa… và tích cực chia sẻ trong các buổi sinh hoạt chuyên môn hoặc qua nhóm trực tuyến của nhà trường.

Kết quả khảo sát mức độ ứng dụng CNTT và AI của đội ngũ giáo viên mẫu giáo sau khi áp dụng các biện pháp:

Tổng số giáo viên được khảo sát: 48 giáo viên

Thời điểm: Tháng 3 năm 2026 kết quả thu được như sau:

 

TT

Nội dung khảo sát

Mức độ

Số lượng

Tỷ lệ (%)

 

1

Giáo viên sử dụng CNTT trong        soạn        giảng

(PowerPoint, video…)

Thành thạo

41

85%

bản

4

9%

Hạn chế

3

6%

2

Giáo  viên  sử   dụng   các

Thường xuyên

39

81%


 

 

công   cụ   AI   (ChatGPT,

Gama,     Cloud,     Canva

AI…)

Thỉnh thoảng

4

8%

Không      thường

xuyên.

5

11%

 

3

 

Tinh thần tự học, tự bồi dưỡng về CNTT và AI

Thường xuyên

38

80%

Thỉnh thoảng

5

10%

Không      thường

xuyên.

5

10%

Nhìn vào bảng kết quả khảo sát sau khi áp dụng các biện pháp cho thấy tỷ lệ giáo viên ứng dụng công nghệ thành thạo và thường xuyên tăng lên rõ rệt, trong khi tỷ lệ giáo viên hạn chế và không thường xuyên ứng dụng công nghệ giảm đáng kể. Đáng chú ý, giáo viên đã dần hình thành thói quen ứng dụng CNTT và AI trong công việc hàng ngày, từ khâu soạn bài, chuẩn bị học liệu đến tổ chức hoạt động và đánh giá trẻ. Việc ứng dụng công nghệ không còn mang tính phong trào mà trở thành nhu cầu tự thân, góp phần nâng cao hiệu quả công việc và chất lượng giáo dục của nhà trường.

* Đối với trẻ:
Trẻ hứng thú hơn khi tham gia các hoạt động giáo dục ứng dụng CNTT và AI; mạnh dạn, tích cực tham gia vào các trò chơi, hoạt động tương tác.
Khả năng quan sát, ghi nhớ duy của trẻ được nâng cao thông qua các hình ảnh, video, học liệu trực quan sinh động.
Trẻ có cơ hội tiếp cận công nghệ một cách phù hợp, góp phần phát triển toàn diện các lĩnh vực nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ và kỹ năng xã hội.
* Đối với công tác quản lý:
Công tác chỉ đạo chuyên môn của Hiệu phó trở nên khoa học, định hướng và hiệu quả hơn; việc kiểm tra, đánh giá được thực hiện có tiêu chí cụ thể Sinh hoạt chuyên môn được đổi mới theo hướng thiết thực, gắn với thực hành, chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng CNTT AI.
Hình thành được kho học liệu số dùng chung trong nhà trường, tạo điều kiện cho giáo viên khai thác và sử dụng hiệu quả.

* Khả năng áp dụng tính lan toả của biện pháp:

Các biện pháp được đề xuất trong sáng kiến có tính thực tiễn cao, phù hợp với điều kiện của các cơ sở giáo dục mầm non hiện nay, do đó có khả năng áp dụng rộng rãi và dễ dàng triển khai.

Trước hết, các biện pháp được xây dựng dựa trên thực trạng đội ngũ giáo viên tại nhà trường, đặc biệt chú trọng đến việc hỗ trợ giáo viên còn hạn chế về công nghệ, nên có tính phù hợp với nhiều đối tượng giáo viên khác nhau, từ giáo viên trẻ đến giáo viên lớn tuổi. Nội dung bồi dưỡng, hướng dẫn đều mang tính cụ thể, đơn giản, dễ thực hiện, không đòi hỏi trình độ công nghệ cao, do đó các trường mầm non có điều kiện tương tự hoàn toàn có thể áp dụng.

Bên cạnh đó, việc ứng dụng CNTT AI trong đề tài chủ yếu sử dụng các công cụ phổ biến, dễ tiếp cận, không yêu cầu đầu kinh phí lớn, tận dụng tối đa các thiết bị sẵn có như máy tính, tivi, điện thoại thông minh và kết nối internet. Điều này giúp các biện pháp có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhiều nhà trường, kể cả những đơn vị còn hạn chế về nguồn lực.

Quy trình triển khai các biện pháp được xây dựng rõ ràng, có hệ thống, bao gồm các bước: khảo sát – bồi dưỡng – tổ chức thực hiện – kiểm tra đánh giá – nhân rộng. Cách làm này không chỉ giúp đảm bảo hiệu quả khi áp dụng tại đơn vị mà còn có thể chuyển giao, áp dụng linh hoạt tại các trường mầm non khác.

Về tính lan tỏa, thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội giảng, chuyên đề cấp trường, các sản phẩm học liệu số, video bài giảng, trò chơi tương tác… được giáo viên chia sẻ rộng rãi, tạo điều kiện để đồng nghiệp học tập áp dụng. Đồng thời, việc xây dựng kho học liệu số dùng chung giúp các giáo viên dễ dàng tiếp cận, khai thác và phát triển thêm các sản phẩm mới.

Ngoài phạm vi nhà trường, sáng kiến còn có thể phù hợp trong các buổi sinh hoạt chuyên môn các trường mầm non trong và ngoài xã. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số đang được đẩy mạnh, các biện pháp của sáng kiến càng có ý nghĩa thực tiễn và khả năng nhân rộng cao.

* Hiệu quả sau khi áp dụng các biện pháp.

Việc triển khai đề tài “Biện pháp chỉ đạo giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non” đã mang lại những hiệu quả thiết thực không chỉ về mặt chuyên môn mà còn về kinh tế và xã hội.

Hiệu quả về kinh tế:

Việc ứng dụng CNTT và AI giúp giáo viên tiết kiệm đáng kể thời gian và công sức trong quá trình soạn giảng, thiết kế học liệu. Trước đây, giáo viên mất nhiều thời gian để tìm kiếm tài liệu, vẽ tranh, chuẩn bị đồ dùng trực quan thì nay có thể sử dụng các công cụ AI để tạo nhanh nội dung, hình ảnh, video phù hợp.

Giảm chi phí in ấn, làm đồ dùng dạy học thủ công. Nhiều học liệu được số hóa và sử dụng nhiều lần, góp phần tiết kiệm kinh phí cho nhà trường.
Tận dụng hiệu quả các thiết bị sẵn như máy tính, tivi, internet, nângcao hiệu suất sử dụng sở vật chất, tránh lãng phí.

Giáo viên có thể tái sử dụng, chỉnh sửa học liệu số linh hoạt theo từng chủ đề, từng độ tuổi, từ đó tăng tính bền vững hiệu quả lâu dài trong công tác chuyên môn. Đồng thời, việc xây dựng kho học liệu số dùng chung giúp các giáo viên dễ dàng tiếp cận, khai thác và phát triển thêm các sản phẩm mới. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số đang được đẩy mạnh, các biện pháp của sáng kiến càng có ý nghĩa thực tiễn và khả năng nhân rộng cao.

Hiệu quả về hội:

Nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ: các hoạt động giáo dục trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, giúp trẻ hứng thú học tập, phát triển toàn diện về nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ và kỹ năng xã hội.

Góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương chuyển đổi số trong giáo dục, phù hợp với định hướng đổi mới của ngành trong giai đoạn hiện nay.
Tạo môi trường làm việc tích cực, hiện đại, khuyến khích giáo viên đổi mới, sáng tạo, nâng cao năng lực nghề nghiệp, từ đó góp phần xây dựng đội ngũ giáo viên có chất lượng.

Tăng cường sự tin tưởng của phụ huynh đối với nhà trường khi thấy được sự đổi mới trong phương pháp giáo dục; phụ huynh có thể dễ dàng tiếp cận các sản phẩm học tập của trẻ thông qua các hình thức số hóa.

Như vậy, với tính khả thi, dễ áp dụng, chi phí thấp hiệu quả rõ rệt, sáng kiến không chỉ phát huy hiệu quả tại đơn vị mà còn có khả năng lan tỏa, nhân rộng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay.

PHẦN III: KẾT LUẬN KHUYẾN NGHỊ

1.    Kết luận.

Qua quá trình nghiên cứu và triển khai đề tài “Biện pháp chỉ đạo giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non”, có thể khẳng định rằng việc ứng dụng CNTT và AI trong giáo dục mầm non là xu thế tất yếu, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

Các biện pháp được xây dựng và thực hiện trong đề tài đã bám sát thực tiễn của nhà trường, phù hợp với năng lực đội ngũ giáo viên và điều kiện cơ sở vật chất, đồng thời có tính hệ thống, logic và khả thi cao. Thông qua việc triển khai đồng bộ các biện pháp từ nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kỹ năng, chỉ đạo tổ chức thực hiện đến kiểm tra, đánh giá nhân rộng, năng lực ứng dụng CNTT và AI của giáo viên đã được nâng cao rõ rệt; chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ có nhiều chuyển biến tích cực.

Đặc biệt, đề tài đã góp phần thay đổi tư duy của giáo viên từ thụ động sang chủ động, từ e ngại sang tự tin trong việc ứng dụng công nghệ; đồng thời giúp trẻ được tiếp cận với môi trường học tập sinh động, hiện đại, phù hợp với đặc điểm phát triển. Kết quả đạt được không chỉ nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường mà còn khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lý chuyên môn trong việc thúc đẩy đổi mới.

Sau quá trình triển khai các biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo, tôi đã tiến hành khảo sát, đánh giá để đối chứng sự thay đổi trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và AI của giáo viên. Kết quả cho thấy có sự chuyển biến rõ rệt, giáo viên sử dụng thành thạo CNTT trong hoạt động chuyên môn của mình một cách thường xuyên hơn, trẻ tích cực tương tác cùng cô trong các hoạt động.
Bảng so sánh đối chứng kết quả trước sau khi áp dụng các biện pháp:

Tổng số giáo viên được khảo sát: 48 giáo viên

 

 

TT

 

Nội dung khảo sát

 

Mức độ

Đầu năm đạt (%)

Cuối năm đạt (%)

Tỷ lệ Đạt tăng/giảm

 

1

Giáo viên sử dụng CNTT trong soạn giảng (PowerPoint, video…)

Thành thạo

37%

85%

tăng 48%

bản

42%

9%

giảm 33%

Hạn chế

21%

6%

giảm 15%

 

 

2

Giáo viên sử dụng các công cụ AI (ChatGPT, Gama, Cloud, Canva AI…)

Thường xuyên

29%

81%

tăng 52%

Thỉnh thoảng

40%

8%

giảm 32%

Không  thường

xuyên.

31%

11%

giảm 20%

 

 

3

 

Tinh thần tự học, tự bồi dưỡng về CNTT và AI

Thường xuyên

23%

80%

tăng 57%

Thỉnh thoảng

40%

10%

giảm 30%

Không  thường

xuyên.

37%

10%

giảm 27%

Nhìn vào bảng kết quả đối chứng sau khi áp dụng các biện pháp cho thấy tỷ lệ giáo viên sử dụng thành thạo CNTT trong soạn giảng tăng đáng kể, từ mức 37% lên 85%, tỷ lệ giáo viên thường xuyên sử dụng các công cụ AI từ mức 29% lên 81%, giáo viên thường xuyên có tinh thần tự học, tự bồi dưỡng về CNTT và AI từ mức 23% lên 80%. Điều này khẳng định rằng các biện pháp được triển khai không chỉ nâng cao về khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và AI, năng lực chuyên môn mà còn thay đổi tích cực về tư duy và phương pháp làm việc, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

2.   Khuyến nghị.

Để việc ứng dụng CNTT AI trong giáo dục mầm non được triển khai hiệu quả và bền vững hơn, tôi xin đề xuất một số khuyến nghị sau:

* Đối với giáo viên:
- Chủ động tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực ứng dụng CNTT và AI trong giảng dạy.
- Mạnh dạn đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục, tích cực sáng tạo học liệu số phù hợp với trẻ.
- Tăng cường chia sẻ, hỗ trợ đồng nghiệp, cùng nhau nâng cao chất lượng chuyên môn.

* Đối với nhà trường:

Tiếp tục duy trì phát huy hiệu quả các biện pháp đã thực hiện, đồng thời thường xuyên cập nhật các công cụ công nghệ mới phù hợp.

Tăng cường tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng thực hành, chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng CNTT và AI.

Xây dựng phát triển kho học liệu số dùng chung, tạo điều kiện cho giáo viên khai thác và sử dụng hiệu quả.

* Đối với Phòng Văn hóa-Xã hội:
- Tiếp tục quan tâm, chỉ đạo định hướng cụ thể về việc ứng dụng CNTT và AI trong giáo dục mầm non.
- Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng ứng dụng công nghệ và AI cho cán bộ quản lý và giáo viên.
- Tăng cường đầu sở vật chất, trang thiết bị công nghệ, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho các nhà trường triển khai.

Trên đây là đề tài “Biện pháp chỉ đạo giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non” mà tôi đã nghiên cứu, thực hiện, áp dụng trong năm học 2025-2026. Với những kết quả đã đạt được, tôi tin tưởng rằng sáng kiến sẽ tiếp tục được hoàn thiện, nhân rộng và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non trong bối cảnh đổi mới và chuyển đổi số hiện nay. Trong quá trình nghiên cứu đề tài này còn có nhiều thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học cơ sở và các đồng nghiệp để bản sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện và được áp dụng rộng rãi hơn.

Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm của tôi, không sao chép nội dung của người khác.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

                     Tác giả

                        

                                                               Tăng Thị Kim Sơn






Dưới đây một số hình ảnh minh chứng các nội dung SK

PHỤ LỤC 1: TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.   Bộ Giáo dục và Đào tạo (2022), Quyết định số 131/QĐ-TTg về Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo.

2.   Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

3.   Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn thực hiện chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”.

4.   OpenAI, Tài liệu hướng dẫn sử dụng ChatGPT trong giáo dục.

5.   Google, Tài liệu về ứng dụng AI trong dạy học (Gemini, Google AI tools).

6.   Canva, Hướng dẫn sử dụng Canva trong giáo dục.

7.   Các bài viết, tài liệu tham khảo về ứng dụng CNTT AI trong giáo dục mầm non trên các trang thông tin giáo dục chính thống.

8.    Tài liệu tập huấn, chuyên đề của nhà trường Phòng văn hóa hội về chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong giảng dạy.


PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH MINH CHỨNG

Hình ảnh 1: Hướng dẫn giáo viên ứng dụng công cụ canva để tạo trò chơi tương tác.


Hình ảnh 2: Hướng dẫn giáo viên ứng dụng công cụ Flow Labs Google

Hình ảnh 3: Hướng dẫn giáo viên ứng dụng công cụ Ai voice để chuyển văn bản thành giọng nói.

Hình ảnh 4: Hướng dẫn giáo viên ứng dụng công cụ Gamma để tạo slide thuyết trình.

Hình ảnh 5: Hoạt động khám phá của lớp 4TB1.

Hình ảnh 6: Hoạt động tạo hình của lớp 5TA2.

Hình ảnh 7: Hoạt động làm quen với toán của lớp 5TB.

Hình ảnh 8: Hoạt động âm nhạc của lớp 3TC1.

Hình ảnh 9: Sinh hoạt chuyên môn tổ mẫu giáo.

Hình ảnh 10: Sinh hoạt chuyên môn tổ mẫu giáo.

Hình ảnh 11: Kiến tập Chuyên đề cấp trường tại lớp 5TA.

Hình ảnh 12: Chia sẻ ứng dụng CNTT trong sinh hoạt chuyên môn.








Đăng nhận xét (0)
Mới hơn Cũ hơn